Động lực phát triển đất nước: [Bài 1] Tài nguyên là tài sản quốc gia

Tin tức - Sự kiện 14/01/2026

Qua các kỳ Đại hội Đảng, nhận thức về tài nguyên đã thay đổi từ 'kho nguyên liệu' sang xem đây là tài sản quốc gia, là nền tảng của sự phát triển.

Định hướng tại Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV cho thấy quản lý tài nguyên thiên nhiên đã được nâng tầm thành trụ cột của an ninh quốc gia và phát triển bền vững. 

Quan điểm về quản lý tài nguyên thiên nhiên qua các kỳ Đại hội
Lịch sử quản lý tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam gắn liền với quá trình đổi mới tư duy kinh tế chính trị của Đảng. Sau Đại hội VI, yêu cầu cấp bách là phục hồi kinh tế, ổn định đời sống xã hội, bảo đảm an ninh lương thực. Tài nguyên thiên nhiên được nhìn nhận chủ yếu như nguồn đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng hạ tầng. Đất đai, rừng, khoáng sản được khai thác để tạo nguồn lực vật chất cho tái thiết đất nước. Trong giai đoạn này, ưu tiên tăng trưởng chi phối mạnh mẽ lựa chọn chính sách, các yếu tố sinh thái chưa trở thành trọng tâm điều tiết phát triển. Bước sang thập niên 1990, cùng với tiến trình hội nhập, tư duy về khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường bắt đầu hình thành.

Văn kiện các kỳ Đại hội VII và VIII đã đề cập yêu cầu tiết kiệm tài nguyên, giảm suy thoái sinh thái trong công nghiệp hóa. Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 đánh dấu bước thể chế hóa đầu tiên cho quản lý môi trường. Dù vậy, cách tiếp cận vẫn thiên về xử lý hậu quả, thiếu liên kết tổng thể giữa quy hoạch phát triển kinh tế và bảo tồn hệ sinh thái, dẫn tới tình trạng khai thác cục bộ, phân mảnh không gian sinh thái.

Khi Việt Nam bước vào thế kỷ 21, những hệ lụy môi trường của tăng trưởng nhanh ngày càng rõ rệt. Đại hội IX và X đã chính thức hóa khái niệm phát triển bền vững, nhấn mạnh mối quan hệ gắn bó giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Tài nguyên thiên nhiên được nhìn nhận như yếu tố hữu hạn, cần sử dụng tiết kiệm và hiệu quả. Song song với mở rộng đầu tư và công nghiệp hóa, áp lực lên đất đai, nước và rừng gia tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý tổng hợp theo không gian và lưu vực.

Đại hội XI đánh dấu bước chuyển chiến lược khi biến đổi khí hậu và suy thoái tài nguyên được xác định là thách thức trực tiếp đối với phát triển quốc gia. Tư duy quản lý chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động thích ứng; quản lý tài nguyên thiên nhiên gắn với giảm thiểu rủi ro thiên tai, bảo vệ sinh kế và ổn định xã hội. Đây là tiền đề quan trọng cho cách tiếp cận hệ sinh thái, coi các thành phần tự nhiên có mối liên kết hữu cơ, không thể quản lý tách rời theo từng ngành hay từng địa giới hành chính.

Giai đoạn Đại hội XII và XIII chứng kiến sự cứng rắn hơn trong quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng. Tài nguyên thiên nhiên được xác định là tài sản quốc gia cần hạch toán đầy đủ trong phát triển kinh tế. Các khái niệm kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, hài hòa với thiên nhiên được đưa vào định hướng chiến lược. Cam kết Net Zero 2050 thể hiện rõ yêu cầu tái cấu trúc mô hình sử dụng tài nguyên theo hướng giảm phát thải, tăng khả năng phục hồi hệ sinh thái.

            

Tiếp cận cảnh quan dựa vào hệ sinh thái là lựa chọn tất yếu
Trong kỷ nguyên sinh thái, kỷ nguyên mới, cách tiếp cận cảnh quan dựa vào hệ sinh thái trở thành lựa chọn tất yếu. Phương pháp quản lý tổng hợp cảnh quan xem xét tổng thể không gian tự nhiên và kinh tế xã hội, nhận diện mối liên kết giữa đất đai, nước, rừng, biển và con người. Quy hoạch phát triển không còn dựa trên mở rộng biên giới khai thác mà dựa trên tối ưu hóa giá trị sinh thái và kinh tế trong giới hạn tài nguyên hiện hữu. Khi quỹ đất chưa sử dụng dần cạn kiệt, mọi quyết định phân bổ không gian đều mang tính đánh đổi, đòi hỏi hạch toán vốn tự nhiên và cân nhắc lợi ích dài hạn.

Định hướng tại Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV cho thấy quản lý tài nguyên thiên nhiên đã được nâng tầm thành trụ cột của an ninh quốc gia và phát triển bền vững, phản ánh bước tiến quan trọng trong tư duy phát triển của Việt Nam.

Tiếp cận cảnh quan dựa vào hệ sinh thái cho phép tích hợp mục tiêu phát triển kinh tế với bảo tồn đa dạng sinh học, an ninh lương thực và an ninh môi trường. Cách tiếp cận này hỗ trợ quản lý liên vùng, liên ngành, giảm xung đột sử dụng tài nguyên, nâng cao khả năng thích ứng trước biến đổi khí hậu. 

Phương pháp tiếp cận cảnh quan được hình thành từ yêu cầu quản lý các mối quan hệ không gian phức tạp giữa con người và tự nhiên trên quy mô rộng, vượt khỏi tư duy chia cắt theo ngành hay địa giới hành chính.

Tại Việt Nam, phương pháp này gắn chặt với yêu cầu tái cấu trúc mô hình phát triển khi quỹ đất, nước, rừng ngày càng chịu áp lực lớn từ đô thị hóa, công nghiệp hóa và biến đổi khí hậu. Tiếp cận cảnh quan được hiểu như một chiến lược điều phối các mục tiêu sử dụng đất cạnh tranh trong cùng một đơn vị sinh lý tự nhiên nhằm duy trì cân bằng dài hạn giữa tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và bảo toàn hệ sinh thái. Điểm cốt lõi nằm ở tư duy chấp nhận giới hạn tài nguyên, từ đó thiết kế các quyết định phát triển dựa trên khả năng chịu tải và giá trị sinh thái tích hợp của toàn bộ không gian.

Mở rộng dư địa phát triển bền vững
Kết quả kiểm kê nguồn lực tài nguyên thiên nhiên giai đoạn 2021-2025 phản ánh trạng thái giới hạn rõ rệt của không gian phát triển quốc gia, đặt ra yêu cầu tái cấu trúc tư duy quản lý theo hướng tích hợp và dựa vào nền tảng sinh thái. Bộ dữ liệu kiểm kê được xây dựng từ hệ thống thống kê quốc gia, ảnh viễn thám độ phân giải cao và báo cáo chuyên ngành đã cung cấp bức tranh định lượng đầy đủ về đất đai, nước, rừng, đa dạng sinh học và khoáng sản. Các chỉ số cho thấy dư địa mở rộng theo chiều ngang gần như chấm dứt, trong khi áp lực phát triển kinh tế xã hội tiếp tục gia tăng mạnh mẽ trong giai đoạn tới.

Đối với tài nguyên đất đai, tổng diện tích tự nhiên khoảng 33,13 triệu héc-ta phản ánh giới hạn vật lý ổn định trong nhiều thập niên. Cơ cấu sử dụng đất thể hiện tỷ trọng đất nông nghiệp 27,98 triệu ha chiếm 84,44%, đất phi nông nghiệp 3,98 triệu ha chiếm 12,03%, đất chưa sử dụng chỉ còn 1,17 triệu ha tương đương 3,54%. Xu hướng giảm nhanh diện tích đất chưa sử dụng từ hơn 3 triệu ha năm 2010 xuống mức hiện tại khẳng định biên giới mở rộng đất đai đã khép lại. Mọi quyết định quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị, hạ tầng giao thông đều đặt trong quan hệ thay thế trực tiếp với đất nông nghiệp hoặc các không gian sinh thái nhạy cảm. Áp lực xung đột sử dụng đất gia tăng tại các vùng ven đô, đồng bằng châu thổ và hành lang ven biển, tạo ra yêu cầu cấp thiết đối với các công cụ quy hoạch tích hợp dựa trên đánh giá giá trị hệ sinh thái và năng lực chịu tải môi trường.


Thay cho quan niệm thiên nhiên như hạ tầng miễn phí, các hệ sinh thái được coi như tài sản hoạt động tạo ra giá trị kinh tế xã hội liên tục. 

Đối với tài nguyên nước, kết quả kiểm kê trên 13 lưu vực sông chính cho thấy tổng lượng nước mặt ở mức cao với vai trò áp đảo của lưu vực sông Cửu Long đạt khoảng 488,3 tỷ m3 mỗi năm. Phân bố theo thời gian và không gian lại thể hiện tính bất ổn lớn, dẫn tới nghịch lý an ninh nước tại nhiều vùng. Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thường xuyên đối mặt với thiếu hụt mùa khô, trong khi đồng bằng hạ lưu chịu rủi ro ngập lụt, xâm nhập mặn và phụ thuộc dòng chảy xuyên biên giới. Ô nhiễm nước nổi lên như thách thức trọng yếu khi lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp xả ra môi trường đạt khoảng 28,2 triệu m3 mỗi ngày. Khung pháp lý mới của Luật Tài nguyên nước 2023 đã tạo nền tảng cho quản lý tổng hợp theo lưu vực, song kết quả kiểm kê cho thấy năng lực điều phối liên vùng và chia sẻ dữ liệu còn hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả phân bổ và bảo vệ nguồn nước dài hạn.

Đối với tài nguyên rừng, tỷ lệ che phủ toàn quốc đạt khoảng 42,02% năm 2024 phản ánh thành quả duy trì diện tích ổn định trong nhiều năm. Chất lượng rừng lại bộc lộ sự phân hóa sâu sắc. Phần lớn diện tích rừng trồng sản xuất với các loài keo, bạch đàn có chu kỳ ngắn, giá trị lưu trữ các-bon và đa dạng sinh học thấp. Rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở vùng núi cao, tình trạng chia cắt sinh cảnh và suy giảm cấu trúc diễn ra phổ biến. Dù vậy, lâm nghiệp tiếp tục đóng góp đáng kể cho nền kinh tế với kim ngạch xuất khẩu lâm sản tăng trưởng liên tục giai đoạn 2021-2024, cho thấy tiềm năng chuyển đổi sang mô hình kinh tế rừng đa giá trị nếu gắn kết hiệu quả bảo tồn với sinh kế địa phương.

Đối với đa dạng sinh học, Việt Nam ghi nhận hơn 62.600 loài sinh vật đã được xác định, phản ánh mức độ phong phú hàng đầu khu vực. Hệ thống 179 khu bảo tồn với tổng diện tích khoảng 2,69 triệu ha tạo nền tảng pháp lý cho bảo vệ các hệ sinh thái then chốt. Dữ liệu kiểm kê chỉ ra xu hướng suy giảm quần thể tại nhiều loài do chia cắt sinh cảnh, áp lực khai thác trái phép và xâm lấn của loài ngoại lai. Nhu cầu cập nhật Sách Đỏ và tăng cường giám sát dựa trên công nghệ số trở thành ưu tiên nhằm bảo đảm duy trì vốn tự nhiên sinh học cho phát triển dài hạn.

Đối với tài nguyên khoáng sản, kiểm kê khẳng định vị thế chiến lược của các nguồn bô-xít Tây Nguyên, đất hiếm tại Lai Châu và Yên Bái, đá vôi phục vụ công nghiệp vật liệu. Chính sách chuyển dịch từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu được củng cố thông qua phê duyệt nhiều trữ lượng mới năm 2024 và triển khai quản lý dự trữ chiến lược theo Nghị quyết 10-NQ/TW. Kết quả kiểm kê cho thấy yêu cầu gắn khai thác khoáng sản với chuẩn mực môi trường cao hơn và hạch toán đầy đủ chi phí sinh thái nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia lâu dài.

Tư duy về hạ tầng được chuyển dịch từ mở rộng tuyến tính sang quản lý hành lang sinh thái. Hạ tầng giao thông và năng lượng nếu thiếu thiết kế sinh thái sẽ chia cắt sinh cảnh, làm suy giảm khả năng di chuyển và trao đổi di truyền của nhiều loài. Tiếp cận cảnh quan đặt ra yêu cầu tích hợp các giải pháp độ thấm xanh như cầu vượt động vật hoang dã, hành lang sinh thái ven sông, dải đệm xanh dọc tuyến giao thông nhằm duy trì tính kết nối của hệ sinh thái, đặc biệt tại các vùng có giá trị đa dạng sinh học cao như dãy Trường Sơn.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, tiếp cận cảnh quan mở đường cho chuyển đổi từ phân vùng cây trồng cứng nhắc sang phân vùng theo chức năng thổ nhưỡng và sinh lý đất. Cách tiếp cận này cho phép linh hoạt mô hình canh tác như luân canh lúa tôm tại đồng bằng ven biển hoặc nông lâm kết hợp tại trung du miền núi, miễn là khả năng phục hồi và thuận nghịch của đất được bảo toàn. Điều đó góp phần nâng cao thu nhập nông hộ đồng thời giảm áp lực suy thoái tài nguyên.

Trong điều kiện Việt Nam, tiếp cận cảnh quan mang ý nghĩa đặc biệt. Mỗi héc-ta đất chuyển sang công nghiệp hoặc hạ tầng đồng nghĩa với việc thu hẹp không gian sản xuất nông nghiệp hoặc suy giảm dịch vụ hệ sinh thái. Cách tiếp cận truyền thống dựa trên quy hoạch đơn ngành thường dẫn tới xung đột lợi ích, suy thoái môi trường và chi phí khắc phục lớn về sau. Tiếp cận cảnh quan cho phép nhìn nhận tổng thể các dòng vật chất, năng lượng, sinh học và kinh tế trong cùng một không gian, từ đó hỗ trợ lựa chọn phương án tối ưu dựa trên lợi ích dài hạn thay vì lợi ích ngắn hạn.

Trụ cột quan trọng của tiếp cận cảnh quan tại Việt Nam hiện thực hóa giá trị dịch vụ hệ sinh thái thông qua mô hình hóa sinh thái kinh tế tích hợp. Thay cho quan niệm thiên nhiên như hạ tầng miễn phí, các hệ sinh thái được coi như tài sản hoạt động tạo ra giá trị kinh tế xã hội liên tục. Các vùng đất ngập nước điều tiết lũ, rừng đầu nguồn giữ nước và ổn định đất, hệ sinh thái ven biển giảm thiểu rủi ro thiên tai. Khi các không gian này bị chuyển đổi, chi phí thay thế bằng hạ tầng nhân tạo thường rất lớn và kéo dài. Tiếp cận cảnh quan yêu cầu lượng hóa các chi phí đó ngay từ khâu quy hoạch nhằm bảo đảm quyết định phát triển phản ánh đầy đủ giá trị vốn tự nhiên.

TIN LIÊN QUAN